Cuốn thứ Bảy
Ngồi buồn nhớ lại ngồi buồn,
Mấy lời Phật biểu đôi trương ghi vào.
Thương thay trần hạ xiết bao,
Cứ đem chuyện dữ chất cao như thành.
Lưỡng thần biên chép đành rành,
Tội dư trăm tội ai xin đặng nào.
Nhiều người thật rất hùng hào,
Chẳng kể đầu bạc tuổi cao chút nào.
Am vân thì lại ít vào,
Cho nên mắc phải lao đao nhiều bề.
Thấy ai tu niệm cười chê,
“Thầy hay Vãi giỏi khỏi bề gian nan”
Ngặt đời nó việc dị đoan,
Rủ nhau dụm miệng ngửa ngang chê cười.
Cười một mà khóc tới mười,
Sao không chi xét vui chi bớ người.
Tôi nói chứng có Đất Trời,
Ngạo cười đọa cửa Thứ Mười dân ôi !
Ngưỡng than chẳng có thấu Trời,
Sa vào Hắc Ám biết ngày nào ra.
Xưa kia cha mẹ ông bà,
Ở cõi trần hạ hay là ở đâu ?
Thuở xưa sáu chục bạc đầu,
Đời nay ba chục tóc râu bạc nhiều.
Cố ăn lại ở hãnh kiêu,
Nói mình bá hộ khi chê kẻ nghèo.
Sang giàu như bọt như bèo,
Nghèo mà tu niệm như kèo lông xưa.
Dầu cho sớm nắng tối mưa,
Cũng là khó thấm nước vô tới kèo.
Lung lăng khác thể như bèo,
Nay dời mai vịnh cheo leo bến bờ.
Tu hành nào có bơ vơ,
Cũng như tằm nhộng có tơ bao ngoài.
Ở trong như thể lâu đài,
Khỏi lo khỏi sợ chi loài chông gai.
Ác nhơn mắc họa mắc tai,
Nói cho hung ác luận bàn cười chê.
Người lành khác thể quế mai,
Lung lăng khác thể như chai vậy mà.
Mai già bông lá tốt tươi,
Mai non khô héo tiêu mòn lá bông.
Còn đâu mà đợi mà trông,
Tu hành nào có mang gông bao giờ.
Ỷ tài như đám hung nô,
Bị tay Nhơn Quí tóm thâu cơ đồ.
Quyền cao bằng Lý Đạo Tông,
Lầm tuy Trình Tuế mạng vong tại chùa.
Châu Xương tài sức không vừa,
Mắc mưu Quan Thánh phải theo phục tùng.
Sư Đồ tài phép không cùng,
Bị tay Thúc Bảo gởi mà thê nhi .
Thành Đô tài gã ai bì,
Mắc tay Ngươn Bá thác thì ra ma.
Dương Phàm nào khác Na Tra,
Còn lầm Lê thị hóa ma Tiết Cương.
Trung thần là Triệu Khắc Thường,
Gian thần vừa diệt Thiên Vương miễu thờ.
Tước quyền Trịnh thị Nam Vương,
Bị nàng Hàng thị một giờ thác oan.
Long Vương ở cõi Hải Giang,
Khi người thầy bói nên chàng vong thân.
Huyền Trang Tam Tạng tu cần,
Tám mươi mốt nạn mà không lụy mình.
Trịnh Hâm là đứa bạc tình,
Thì sau mắc phải Thiên Đình xử phân.
Vân Tiên mắc nạn mấy lần,
Ngày sau người được ấn rồng trị dân.
Nguyệt Nga trinh tiết liều thân,
Gian nan sá kể chông gai nhiều bề.
Sau Nàng Chánh hậu Hoàng thê,
Trung trinh tiết hạnh ai chê bao giờ.
Lang tâm như mụ Vi Cơ,
Thác rồi tiếng nhớp dơ đời đời.
Dầu ai có giỏi dối đời,
Trần gian không rõ Phật Trời cũng hay.
Trụ Vương tửu sắc mê say,
Nhà Thương mắc nước quân thần tan hoang.
Gái như nàng Võ Thị Lang,
Chê Tiên bóng quáng sau nàng lại đui.
Lang Châu vốn thiệt là cùi,
Hết cơn đày đọa sau ngồi báu ngôi.
Vinh sang họ Tạ chẳng rồi,
Sau lại bị đuổi ra ngoài làm dân.
Tu hành giữ lấy ngĩa nhân,
Mấy đời có đọa Tổ Tông của mình.
Tham gian hung ác bất minh,
Hết tai tới họa hết tinh tới tà.
Kể sao cho hết vậy mà,
Kinh nầy nói tích ai dùng thời coi.
Mặc tình già trẻ xét soi,
Chớ tôi đâu có đồ nòi rút ra.
Mấy bài của Phật cho ta,
Chớ nào có sai ngoa đâu mà.
Cũng nhờ Đức Phật Di Đà,
Truyền rao trần thế trẻ già luận xem.
Tu hành như thể cái đèn,
Lung lăng khác thể buộc chen kẹt rào.
Thiện ác Phật đã truyền rao,
Mặc tình thiên hạ ai nào biết đâu.
Ở đời đặng cá quên câu,
Được chim bẻ ná được cầu quên cây.
Thân tôi như thể bị đày,
Bốn phương thiên hạ Đông Tây tới hoài.
Phật cho giải muộn một bài,
Cuộc đời tôi có ép nài chi ai.
Tôi thề có Phật Như Lai,
Mặc tình thiên hạ giành ai thì giành.
Chớ tôi không giựt không giành,
Sao lại nhiều kẻ tranh giành với tôi.
Ai ai cũng ở trong Trời,
Phần ai nấy hưởng ngạo đời làm chi.
Khoe mình tài trí tiên tri,
Sao mà theo ngạo cười chi sĩ hiền ?
Khổ đoạn lại khổ đoạn trường,
Thấy đời kêu ngạo mà buồn lắm thay.
Nam Mô Phật Tổ Phật Thầy,
Chứng minh trần thế thuở nầy bình an.
SẤM GIẢNG NGƯỜI ĐỜI (SƯ VÃI BÁN KHOAI)
Continue the discussion at forum.matphuoctu.com
6 more replies
Bài Viết Liên Quan

Xin Xăm Quan Thánh Số 3: Trung Cát
Xin Xăm Quan Thánh Linh Xăm, quẻ thứ ba, chữ Giáp Bính, Trung Cát SỐ 3 Trung Cát (03) 第三号簽...

Bài 61 Mật Phước Nhiên Đăng
Lão đây theo lệnh Trời ban. Xây chùa Mật Phước độ an dân tình Chùa là nơi để chúng sinh...

Xăm Quan Thánh 35
Xăm Quan Thánh 35: Hạ Hạ 第三十五号簽 下下一山如畫對江清門裏團圓事事双誰料半途分折去空幃無語對銀缸碧仙注始終未必不合求到底須知力枉勞有設十分奇巧計却防中路被風涛 Âm: Nhất sơn như họa đối thanh giang,Môn lý đoàn viên sự...

Tập San Mật Phước Số 1
Độc giả nhấn vào nút bên dưới để xem bản đầy đủ của Tập San Mật Phước Số 1. Phát...

Bài 16: Chân Long Thiên Tử Là Ai?
Môn đồ tham vấn hỏi Thầy: “Chân long thiên tử thời này là ai?” Lão nghe chỉ biết thở dàiSao...

Bài 30 Việt Tộc Thăng Hoa Mai Này
Có người hỏi lão thế này. “Lão sao không tự giải khai xứ mình?” Lão đây có phép thông linh...

CHƯƠNG I: I – Giáo Chủ Bí Mật (Phần 1/6)
Vì sao phái này có danh xưng là Bí Mật Phật Giáo, lược gọi là Mật Giáo? Có những lý...

Bài Pháp Số 9: Đại Bồ Tát Duy Ma Cật Khai Giảng Đạo Pháp Cho Đồng Tử Quang Nghiêm
Đồng Tử Quang Nghiêm là một vị Bồ Tát tu hành chứng quả, dùng ánh sáng của trí huệ và...
Cuốn thứ Nhất
Hạ Nguơn Giáp Tý bằng nay,
Cơ Trời đã khiến lập đời Thượng lai.
Cậy ông Trưởng lão giáo truyền,
Khuyên trong lê thứ khắp nơi làm lành.
Dương trần ít kẻ kỉnh thành,
Mảng lo làm dữ việc lành bỏ đi.
Ngọc Hoàng lụy nhỏ lâm ly,
Mới sai chư tướng xuống thì răn dân.
Làm đau nhiều bịnh muôn phần,
Cho nên Phật Tổ ân cần ra đi.
Tâu qua Ngọc Đế một khi,
Thứ dung trần thế nhơn dân được nhờ.
Ngọc Hoàng nghe nói ngẩn ngơ,
Mới sai chư vị một giờ ra đi.
Xuống răn trần thế vậy thì,
Mười phần dạy đặng vậy mà có hai.
Tôi vưng Đức Phật Như Lai,
Vái cầu mệt mõi dạy hoài không nghe.
Thế trần đâu biết kiêng dè,
Nghe lời ma quỉ lại chê Phật Trời.
Dạy truyền thiên hạ khắp nơi,
Trăm phần răn dạy vậy thời đôi mươi.
Thấy trong thiên hạ nực cười,
Kẻ ác thì có, người lành thì không.
Khuyên trong tín nữ thiện nam,
Gắng mà tu niệm Thiên Đàng đặng lên.
Ai mà chẳng có chí bền,
Ngày sau yêu quỉ phân thây chẳng còn.
Hỡi mình là đạo làm con,
Tu cầu cha mẹ Phật đường an thân.
Đời nầy mắt nạc thịt trần,
Gắng công tu niệm Phật đường độ thân.
Gẫm trong thiên hạ vạn dân,
Không lo tu niệm phải lâm đọa đày.
Như Lai Bồ Tát bằng nay,
Nói với Ngọc Hoàng xét lại cho dân.
Phật sai tôi phải ân cần,
Rao truyền Đạo chánh cho dân tu trì.
Phật Bà khuyên dạy một khi,
Rước người tu niệm đem lên tòa vàng.
Ai mà ăn ở nghinh ngang,
Tà ma yêu quỉ đón đàng phân thây.
Phật Trời ngự chốn phương tây,
Thấy đứa hung ác chẳng còn thây thi.
Phật biểu niệm chữ Từ bi,
Thấy trong bá tánh ít ai làm lành.
Đem lòng hung dữ chiến tranh,
Làm cho chư Phật sầu bi trong lòng.
Như Lai lụy nhỏ ròng ròng,
Biết làm sao đặng cứu rày chúng sanh.
Mới sai bốn vị Thần nhơn,
Tới đâu truyền dạy vậy thì chúng sanh.
Muời phần dạy đặng hai phần,
Còn tám phần nữa lại không nghe lời.
Năm nay đời đã đến rồi,
Phật sai xã tội vậy thời cho dân.
Năm nay phải kíp ân cần,
Giáo truyền khắp hết xa gần tu thân.
Mấy người làm phước làm nhân,
Tu thời nhứt kiếp phước liền bên lưng.
Ai mà chẳng biết tu thân,
Thì sau phải đọa muôn phần chẳng an.
Mấy người lên đặng tòa vàng,
Có công tu niệm chư Thần đưa lên.
Cho nên xa chốn trần gian,
Phật Trời xuống phước khỏi mang tai nàn.
Lại thêm dựa đặng tòa vàng,
Công danh phú quí hiển vang rạng ngời.
Ai mà dạy chẳng nghe lời,
Trời sai yêu quỉ hại mà chẳng sai.
Đừng than đừng trách Như Lai,
Sao không cứu khổ cứu tai chốn nầy.
Tại mình lòng ở tà tây,
Chẳng thương Cha Mẹ lại khi Phật Trời.
Cho nên Phật bỏ giữa vời,
Trời sai yêu quỉ hại mà tan hoang.
Kẻ mà khi dễ nghinh ngang,
Để cho yêu quỉ phân thây cho rồi.
Tu không phải tốn tiền ngàn,
Ngày sau dựa đặng tòa vàng Quốc Vương.
Thấy ai tu niệm thì thương,
Mấy đứa hung dữ chẳng chừa là ai.
Mắng nhiếc Trời Phật điếc tai,
Hể làm ác, ác lai đến hoài.
Làm thiện thì thiện huờn lai,
Nói cho bá tánh ai ai giữ mình.
Đặng sau coi hội Long Đình,
Khuyên cho nam nữ lòng gìn tu thân.
Rán mà niệm Phật ân cần,
Bằng không tu niệm phải lâm tai nàn.
Những người hung ác ngẩn ngơ,
Trời sai yêu quỉ hại rày chẳng tha.
Đời đà tận thế vậy mà,
Mùa nam gió Bắc, đông thời gió Tây.
Máy Trời nay đã đổi xoay,
Công danh có một hội nầy mà thôi.
Ai mà gắng chí trau giồi,
Chí tâm tu niệm đặng ngồi tòa sen.
Mấy đứa hung ác nghinh ngang,
Vô thường quỉ dắt ngục đàng khảo tra.
Tu là kính trọng Mẹ Cha,
Cầu Trời cầu Phật Di Đà cứu an.
Kính cùng chư Thánh chư Tiên,
Bảy Bà hai Cậu cửu Thiên Thánh Thần.
Ngọc Hoàng ngồi ngự trên ngai,
Thấy trong bá tánh đời nầy không kiêng.
Phật biểu thì tôi giáo truyền,
Khuyên trong nam nữ trẻ già gắng công.
Niệm Phật hai chữ Di Đà,
Có ngày Phật rước khỏi mà yêu ma.
Làm con phải xét gần xa,
Ơn Cha nghĩa Mẹ lẽ nào chẳng mang.
Ai sanh ai duỡng chẳng màng ?
Chửi Cha mắng Mẹ là loài súc sanh.
Để cho ma quỉ phá tan,
Răn đồ bội nghĩa chẳng toàn thây thi.
Nam mô hai chữ từ bi,
Mấy người tu niệm vậy thì rước lên.
Rước người tu niệm chí bền,
Còn kẻ hung dữ bỏ trôi cho rồi.
Năm nay đời đã gần rồi,
Gắng công tu niệm vậy thời bớ dân.
Bền lòng niệm Phật ân cần,
Gắng công tu niệm cũng bằng bạc muôn.
Niệm Phật không đợi người thương,
Có lòng cầu nguyện Tây Phương cũng gần.
Hễ là người ở dưới trần,
Có lòng Phật độ dựa nương theo mình.
Phật không có biểu tụng kinh,
Gắng công khấn vái chúc nguyền Mẹ Cha
“Nam Mô Đức Phật Di Đà,
Cứu Cha cùng Mẹ tôi mà siêu thăng”
Tụng kinh trăm cuốn không bằng,
Chí công tu niệm Phật Thần độ cho.
Bằng ai mà chẳng có lo,
Mong lòng làm dữ nạn to chớ phiền.
Phật Trời sai khiến Thần Tiên,
Tuần du trần thế khắp miền nhơn gian.
Xem trong tội phước rõ ràng,
Có phước cho phước, tội rày khảo tra.
Lại sai quỉ mị tà ma,
Hại kẻ hung ác để mà làm ghi
Ai mà tâm tánh từ bi,
Phật sai chư vị xuống thì rước lên.
Những kẻ hung ác chẳng bền,
Hổ lang ác thú bắt rày chẳng tha.
Thịt ăn xương bỏ dẫy đầy,
Nói cho bá tánh đời nầy tu thân.
Rán mà làm phước làm nhân,
Thời là ắt có Phật sai rước về.
Làm ác thì khổ nhiều bề,
Làm lành Phật rước đặng về Bồng Lai.
Thanh nhàn khoái lạc vui thay,
Làm ác thì lại mắc ngay xác hồn.
Làm lành thì mình đặng tồn,
Làm dữ ác thú xác hồn mất tiêu.
Người hiền nói ít biết nhiều,
Cơ Trời đã định chẳng chiều thời mai.
Cuộc đời thấy khổ lâu ngày,
Nói cho nam nữ rán mà tu thân.
Giáp Tý khổ não trăm phần,
Không phải thái bình ngày rày dân ôi.
Cơ Trời ách có nước rồi,
Tôi Khùng mà nói chuyện đời có không ?
Tánh Khùng khi nhớ khi quên,
Gái trai già trẻ coi nên thì dùng.
Ngồi buồn nói chuyện tầm khùng,
Mặc tình bá tánh có dùng thì coi.
Việc đời khó thiệt hẳn hòi,
Tu hành thời đặng sống coi lập đời.
Thương dân nên nói hết lời,
Gái trai chẳng xét tội thời bất dung.
Khuyên nói bá tánh hay cùng,
Tôi thiệt Điên Khùng nhiều nỗi thiết tha.
Hết trẻ thì tôi lại già,
Hết già tới trẻ ai mà có hay ?
Thương trần nên mới chịu sầu,
Kẻ yêu người ghẹo nào đâu dám phiền.
Chừng nào già trẻ biết ngoan,
Rủ nhau niệm Phật mới an thân già,
Nam Mô Đức Phật Di Đà,
Cầu cho bá tánh trẻ già đặng an.
Nam Mô A Di Đà Phật
(Tam niệm)
Cuốn thứ Hai
Ngồi buồn Khùng nói chuyện Điên,
Thấy trong bá tánh ưu phiền xót thương.
Ít ai đặng ở hiền lương,
Cho nên mắc phải tai ương nhiều bề.
Thấy trong trần thế ủ ê,
Sang giàu có của lại chê người nghèo.
Ta từng lên núi xuống đèo,
Ít ai có đặng chữ nghèo như ta.
Đời nầy bạc ác tinh ma,
Dạy bảo chẳng đặng vậy mà Phật ôi!
Giáp Tý cơ cuộc chưa rồi,
Bước qua Ất Sửu khổ thôi nhiều bề.
Làm cho nhiều việc tiêu điều,
Muôn ngàn thiên hạ chín chiều thon von.
Kẻ thời kiếm mẹ kiếm con,
Ruộng trâu đã hết chẳng còn món chi.
Cửa nhà tan nát vậy thì,
Đất bằng sấm dậy còn gì Trời ơi !
Chừng nào đến việc biết đời,
Bây giờ chưa thấy vậy thời chưa nghe.
Thế trần đâu biết kiêng dè,
Chê rằng nói láo mà nghe làm gì.
Chừng nào thấy việc dị kỳ,
Đón đường nó bắt vậy thì mới tin.
Lại có một mối âm binh,
Làm đau nhiều chứng trong mình chẳng an.
Kẻ thời nát ruột nát gan,
Người lại nát thịt nát xương chẳng còn.
Việc đời càng mỏn càng mòn,
Nói cho bá tánh muốn còn tu thân.
Lạy cầu chư Phật chư Thần,
Cửu huyển Thất Tổ ân cần chẳng sai.
Cầu nguyện lạy vái hôm nay,
Cầu Trời khẩn Phật bằng nay đêm ngày.
Ai mà giữ đặng lâu dài,
Cửu Huyền Thất Tổ đặng lên tòa vàng.
Mấy đứa hung dữ ngang tàn,
Vô thường quỉ dắt ngục đàng xử tra.
Hỏi nào Cha Mẹ Ông Bà,
Cửu Huyền Thất Tổ ở mà nơi đâu ?
Chốn nầy là Phật đương rầu,
Mấy đứa hung ác thì cầm lại đây.
Nói cho già trẻ đặng hay,
Rán mà tu niệm Phật Đà cứu cho.
Như ai mà chẳng có lo,
Đến cơn bát loạn Phật đâu cứu mình.
Người hiền về chốn Tây Phương,
Phật Trời xuống phước khỏi nơi chốn nầy.
Nhơn hiền đâu có tội nầy,
Làm ác thì lại mắc rày nơi đây.
Thác thời cầm ở ngục nầy,
Sống còn dương thế tà ma hại hoài.
Tàn gia bại sản bằng nay,
Lại thêm nhiều chứng hại hoài rất hung.
Người Điên mà nói chuyện Khùng,
Mặc tình trần thế có dùng thì nghe.
Khùng sao mà biết Thiên Cơ,
Cũng là Phật khiến cho Khùng lại Điên.
Xin trong nam nữ đừng phiền,
Rán nghe Điên dạy khỏi miền trần ai.
Điên là điên Phật Như Lai,
Khùng là chư Phật khiến sai nên khùng.
Phật Thầy mến kẻ sửa mình,
Ai mà giữ đặng thật rày hiển vinh.
Cõi trần nhiều kẻ thị khinh,
Thấy đời chưa đến biết chi làm lành.
Ai mà giữ đặng tâm thành,
Khỏi trong hoạn nạn tồn sanh thấy đời.
Phật Trời nói chẳng sai lời,
Long Hoa là hội Phật Trời lập ra.
Lập rồi cái hội Long Hoa,
Chọn người tu niệm đặng mà bao nhiêu.
Chọn lựa coi thử ít nhiều,
Người lành kẻ dữ còn tiêu lẻ nào ?
Minh Vương xuất thế ngôi cao,
Lập đời Thượng Cổ anh hào hiền lương.
Chọn người của Phật mến thương,
Đặng giao mối nước cho Vương Minh Hoàng.
Gian tà ăn ở dọc ngang,
Tru di tam tộc đặng răn nịnh thần.
Mấy người làm phước làm nhân,
Long Hoa một hội quân thần âu ca.
Còn kẻ ác đức bất nhân,
Có tướng chư Thần phân nát thịt xương.
Nói cho già trẻ đặng tường,
Cải ác tùng thiện Phật thương rước về.
Tòa vàng mới được dựa kề,
Kẻ ác thời lại mắc bề gian nan.
Lại thêm mắc phải tai nàn,
Cuộc đời tôi thấy rõ ràng đâu sai.
Nam Mô Đức Phật Như Lai,
Cứu người tu niệm lên đài thảnh thơi.
Phật cho tôi biết việc đời,
Vưng lịnh Phật Trời dạy biểu thế gian.
Tội phước tôi thấy rõ ràng,
Gắng công tu niệm ở đời mà coi.
Sửu Dần vốn thiệt hẳn hòi,
Hội mười tám nước tôn Vương Đế Hoàng.
Đặng coi cái hội Long Hoa,
Chọn người tu niệm Hoàng gia tôn thần.
Lại còn cái hội Long vân,
Quân thần cộng lạc thảy điều vui chơi.
Người lành mới đặng thảnh thơi,
Hoa, Vân hai Hội chúa tôi vui vầy.
Làm ác thì lại mắc thây,
Đâu còn coi hội Rồng mây nửa lừng.
Tu niệm thì Phật thấy mừng,
Làm dữ ác thú lẫy lừng phân thây.
Hổ lang ác thú muôn bầy,
Ác thú vốn của Phật Thầy sai đi.
Thú sau nhiều thú dị kỳ,
Biết sao cho hết khác thì thú nay.
Lớp bay lớp chạy lăng xăng,
Chừng đó cầu nguyện Phật ngừa đặng đâu.
Tu niệm nó thấy cúi đầu,
Người tu của Phật nó mà dám đâu.
Cuộc đời trăm thảm ngàn sầu,
Thiện ác đáo đầu kẻ xuống người lên.
Thiên đường Địa ngục đôi bên,
Người tu của Phật Tây Phương rước về.
Làm dữ hai quỉ giao kề,
Dẫn về Địa phủ khảo tra nhiều bề.
Đến chừng thấy tội ủ ê,
Cầu Trời khẩn Phật cứu rày đặng đâu.
Thấy chuyện hung dữ mà rầu,
Nói cho nam nữ đâu đâu hay cùng.
Trẻ già ai có nghe Khùng,
Cải ác tùng thiện thì Khùng cứu cho.
Điên Khùng hết dạ cần lo,
Cầu cho già trẻ cứ lo tu trì.
Ngồi buồn Khùng nói vân vi,
Phật trời đày đọa khó rày biết bao.
Quan Âm Đạo Sĩ truyền rao,
Giáo khuyên cõi thế hùng hào đừng ham.
Trung cang Thánh đức Già Lam,
Nịnh như Đổng Trác mắc chàng Phụng Tiên.
Ngồi buồn Khùng nói chuyện Điên,
Phật biểu chuyện hiền Khùng nói dữ đa.
Khùng nầy Khùng của Phật Bà,
Cho nên Khùng rõ vậy mà chẳng sai.
Bổn đạo bá tánh ai ai,
Nghe lời Khùng dạy ngày mai coi đời.
Khùng là Khùng Phật Khùng Trời,
Cho nên Khùng biết việc đời hết trơn.
Thương đời nên dạy hết lời,
Mặc tình già trẻ nào hờn trần gian.
Thân Khùng giấc ngủ nào an,
Kẻ kêu người réo nào an giấc nằm.
Chừng nào trai gái trì tâm,
Rủ nhau niệm Phật Quan Âm độ mình.
Thời Khùng mới đặng an thân,
Xin trong bá tánh vạn dân chí tình.
Rán mà niệm Phật cứu mình,
Đến chừng lập hội Long Đình hiển vinh.
Cửa Trời mở rộng thinh thinh,
Trách lòng bá tánh không tình thác oan.
Giảng nầy của Phật Tây Phang,
Cho Khùng đặng dạy cứu an dương trần.
Trao cho bá tánh vạn dân,
Rán công tu niệm Tây Phương an nhàn.
Ai muốn làm tôi Minh Hoàng,
Chí công tu niệm quân thần hiển vinh.
Lầu đài dinh thự nghinh ngang,
Đi thời lại có lọng tàn phủ che.
Răn dạy bá tánh không nghe,
Nữa sau đừng trách Khùng nghe Khùng rầy.
Ai muốn coi hội Rồng Mây,
Bền lòng tu niệm Phật Bà rước đi.
Phật Tiên đâu có nói gì,
Thương người tu niệm xiết chi vui mừng.
Ngồi trên mây bạc chín từng,
Cảm thương hung ác mắc chưa đọa đày.
Tội kia thấu đến Thiên Đình,
Sao không tu niệm ăn năn giữ mình ?
Không tu thì cũng mặc tình,
Can chi kêu ngạo cho mình hao hơi.
Giáo khuyên than nói hết lời,
Ghét thay đứa dại dạy hoài không nghe.
Thương người tu niệm kiêng dè,
Nghèo nàn đói khổ biết nghe Phật trời.
Phật sai tôi phải giáo truyền,
Nói cho hết tiếng hết hơi lại phiền.
Nhà giàu nó ỷ nhiều tiền,
Nó đâu có kể có kiêng thằng Khùng.
Cuộc đời nói chẳng có cùng,
Thương trong lê thứ biết chừng nào nguôi.
Bây giờ nhiều kẻ tới lui,
Hết cơn vinh hiển thời tôi một mình.
Nghĩ đời nhiều kẻ vô tình,
Mai sau tôi lại tách mình đi xa.
Thương thay bá sĩ vậy mà,
Bơ vơ thương nhớ tớ xa Thầy rồi.
Chừng nào nhà nước phục hồi,
Thầy trò sum hiệp Chúa tôi vui vầy.
Bây giờ tớ lại xa Thầy,
Chừng nào thỏ bạc lố bày gặp nhau.
Chư Phật biểu truyền cho mau,
Khuyên trong lê thứ rủ nhau tu trì.
Nói cho trai gái xét suy,
Cũng đừng thấy vậy khinh khi mà lầm.
Muốn cho trung hiếu vẹn toàn,
Nghe lời Phật dạy rõ ràng đâu sai.
Tôi nay là Phật hành hài,
Tôi chẳng có nài ai muốn thì coi.
NamMô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn
Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Niệm ba lần)
Cuốn thứ Ba
Ngồi buồn bắt mạch xem sao,
Giáp Tý Ất Sửu chuyện mau bây giờ.
Bính Dần Đinh Mão ngẩn ngơ,
Đến cơn bát loạn chạy quơ giấy vàng.
Kẻ đau người chết nhộn nhàng,
Muôn binh ngàn thú rộn ràng lăng xăng.
Kẻ thời bị thú bắt ăn,
Người thời lại bị âm binh chạy nhào.
Đất bằng sao nước lại trào,
Chẳng biết chừng nào cho hết loạn ly.
Giặc thời tứ hướng vậy thì,
Nhiều nước dị kỳ khác chẳng giống nhau.
Vừa chạy vừa khóc như mưa,
Trốn đâu cho khỏi binh ngừa bốn phương.
Mình như chỉ vấn tơ vương,
Chính giữa thần tướng trung ương tung hoành.
Ác thú lục phá tan tành,
Tan quan quỉ quái chẳng còn lành đâu.
Thấy chuyện hung dữ mà rầu,
Chư Phật ngồi rầu biết liệu làm sao !
Bởi vì chuyện ác muôn ngàn,
Phật biết thế nào cứu kẻ hung hăng.
Như không tu niệm ăn năn,
Ất là phải mắc cầm trong cõi trần.
Mấy người tích đức tu thân,
Ông Bà Cha Mẹ Phật Thần rước lên.
Tòa vàng ăn ở vững bền,
Khỏi lo lao lý dưới miền trần gian.
Mấy đứa hung ác nghinh ngang,
Có tướng Ngọc Hoàng sai xuống bốn phang.
Tuần tra khắp hết nẻo đàng,
Người nào đen bạc ngỗ ngang bắt rày.
Sàng qua sảy lại bằng nay,
Hết xấu tới tốt hết vong tới tồn.
Thể rằng nhỏ dại lớn khôn,
Người đời như cá ao kia khô rồi.
Chí công hầm đá thành vôi,
Bền lòng tu niệm là tôi Phật Trời.
Cây khô tưới nước thành chồi,
Người sầu tưởng Phật muôn sầu cũng thôi.
Chừng nào Chợ Lớn hết vôi,
Thời là Phật mới bỏ trôi người lành.
Thú vật tu hỡi còn thành,
Người sao chẳng biết làm lành tu thân.
Mấy người ác đức bất nhơn,
Không coi theo thú trau thân tu hành.
Thú vật cải ác còn thành,
Người cứ làm lành cứ thiệt Phật Nhi.
Nam mô hai chữ từ bi,
Cám thương trần thế dạy hoài không nghe.
Gắng công tu niệm kiêng dè,
Kẻo mà đọa kiếp uổng thay cho đời.
Tu niệm người của Phật Trời,
Mừng cho nam nữ biết đời tu thân.
Đặng mà báo hiếu chí ân,
Phụ tử quân thần Cha Mẹ Chúa tôi.
Lung lăng tích ác chẳng rồi,
Sa cơ một phút nhánh chồi tan hoang.
Lại thêm khổ hạnh muôn phần,
Người lành khác thể ngọc ngà lưu ly.
Thánh Hiền sách để còn ghi,
Sao không bán dữ mua lành như xưa ?
Trời còn sớm nắng tối mưa,
Người đời sớm thấy, tối trưa biết nào.
Dương trần đông đảo lao xao,
Người ta thì ít quỉ ma ồn ào.
Bính Dần tật bịnh xiết bao,
Tu hành thì khỏi hùng hào thời mang.
Nói cho già trẻ đặng tàng,
Rán mà tu niệm Ngọc Hoàng thứ dung.
Bớt bớt việc dữ việc hung,
Lo làm nhơn đức việc hung đừng làm.
Thời là mới đặng thành nhân,
Có thuyền Bát Nhã xuê xang rước về.
Bính Dần Đinh Mão ủ ê,
Thần bịnh ác thú đề huề bốn phương.
Đứa dữ chết rất chật đường,
Lớp đau lớp chết xóm làng tan hoang.
Thây nằm như thể làng cang,
Nhà giàu thì lại tan hoang hơn nghèo.
Việc đời coi cũng cheo leo,
Lên núi xuống đèo nào có nại chi.
Xem trong vạn quốc vậy thì,
Dân Nam bạc đạo học thì hung hoang.
Minh Tâm là sách Hớn Đàng,
Hiếu chí rõ ràng sao chẳng học coi.
Luật Nam nghĩa lý hẳn hòi,
Ơn Cha nghĩa Mẹ sự vua trung thần.
Thiệt là luân lý Tứ Ân,
Sao không coi đó xử phân lấy mình ?
Cứ theo ăn ở bạc tình,
Tổ Tông chẳng tưởng cha mình lại vong.
Hạ nguơn đổi dạ thay lòng,
Cho nên theo đạo bỏ mà Tổ Tông.
Dị đoan nào biết Phật Thần,
Thấy đâu chê đó nên lâm nạn sầu.
Nước Nam như thể cái lầu,
Ngày sau các nước đâu đâu phục tùng.
Kim Phiên sau lại gây cùng,
Địa Tiên đâu dám sánh cùng Thiên Tiên.
Đời còn xao xuyến chưa yên,
Cho nên nhiều đứa ngữa nghiêng hùng hào.
Thân tôi khó biết dường nào,
Thương đời tỏ hết âm hao cho đời.
Thân tôi còn ở trong Trời,
Phật sai nên phải đôi lời giáo khuyên.
Cõi trần khi dễ Phật Tiên,
Cứ theo vụ việc kêu dèm liên miên.
Du Thần tuần vãng chép biên,
Ghi tội ghi phước dưới miền trần gian.
Mãn trăng sổ nạp một lần,
Thiên đình hội nghị khán tường hiền hung.
Sổ kia soạn trước vân trung,
Tội nhiều phước ít khó dung cho trần.
Truyền cho hội vệ ân cần,
Đòi hàng Chư vị các lân ứng hầu.
Thất Nương vào bái cúi đầu,
“Lịnh vua cho triệu con vào hầu cha”
Ngọc Hoàng lời nói phán ra:
“Cha cho xuống dẹp gian tà Trung Ương”
Như Lai cảm động lòng thương,
Sai tôi truyền dạy Trung Ương cho tường.
Phật Đà cảm động lòng thương,
Nói cho ai nấy muốn còn tu thân.
Mai mà Trời Phật bố ân,
Xả bớt tội nọ thanh nhàn tấm thân.
Phật Trời mến kẻ trung trinh,
Phật đâu có biểu bỏ Tông Tổ mình.
Thấy đời trần thế bất minh,
Buông lời khi dễ sầu bi trong lòng.
Chư Phật lụy ứa lòng ròng,
Trời cũng động lòng thương hại cho dân.
Phật Trời thương hết thế trần,
Thấy trần chẳng biết đền ân Phật Trời.
Lại còn khi dể Phật Trời,
Phật cho bị đọa cho đời sửa doan.
Kẻ mà khi dễ nghing ngang,
Thấy ai tu niệm lại còn cười chê.
Kiêu ngạo còn nói nhiều bề:
“Ông sư nầy nữa đặng về Tây Phang.
Còn mình mắc xuống Suối vàng,
Có Ông sư đó cứu an lo gì”
Kiêu ngạo còn nói vân vi,
Rủ nhau trâu chó vậy thì làm ăn.
Trần gian lời tục nhạo rằng:
“Làm lành đâu có dư trăm tuổi ngoài.
Ăn trộm ăn cắp sống dai,
Chưởi mắng nó hoài mà thấy chết đâu”
Thấy đời nói túng mà rầu,
Chừng lúc đáo đầu thiện ác biết nhau.
Ngồi buồn nhớ Phật dàu dàu,
Làm sao dạy đặng cho mau mà về.
Thương thay cõi hạ trần mê,
Kẻ còn kẻ mất người đời khó tu.
Bởi mình tánh ở nghinh ngang,
Thấy ai tu niệm lại còn cười chê.
Ngạo cười vương khổ nhiều bề,
Mặc tình bá tánh chợ quê luận bàn.
Thấy ai đói khổ cơ hàn,
Thời lại chẳng màng bỏ xó khinh khi.
Chọn người điều đỏ phương phi,
Dù võng cậu dì chú thím lăng xăng.
Thấy người tàn tật xin ăn,
Chẳng ai chào hỏi rằng ông hay Thầy.
Thấy đời khiến dạ sầu bi,
Võng xe dù ngựa dẫy đầy nghinh ngang.
Lại thêm trà rượu xình xàng,
Mai sau lâm bịnh hơn tàn tật kia !
Bây giờ như khóa không chìa,
Đến chừng lập hội khóa chìa đủ đôi.
Tu niệm nhiều kẻ thả trôi,
Ăn trộm ăn cướp sao không thôi dùm.
Bây giờ tôi lại hết Khùng,
Chứng Điên hóa lại bịnh Khùng hết đi.
Điên Khùng thiệt rất lạ kỳ,
Chẳng biết điên gì mà Phật sầu bi.
Thấy trần thế sự nạn nguy,
Cho nên Phật khiến tôi thì phải điên.
Khuyên trong nam nữ đừng phiền,
Cũng đừng giấu của giấu tiền làm chi.
Nhiều đất nhiều ruộng vậy thì,
Sửu Dần thì lại sầu bi rất nhiều.
Giáp Tý chưa có bao nhiêu,
Qua năm Ất Sửu bịnh đa đói nhiều.
No mai rồi lại đói chiều,
Giàu nay mai lại nghèo nhiều rất đa.
Nghèo mà biết niệm Di Đà,
Hơn giàu giữ của để mà cho vay.
Nữa sau như thể ăn mày,
Đi thời mang cuốc mang cày một bên.
Phú quí mà chẳng có bền,
Chưa từ cực khổ có nên đâu là.
Cho vay gạo quỉ tiền ma,
Lấy lời thập hội đem ra cúng chùa.
Đến đâu nói nịnh nói lùa,
Lường công của thế quê mùa hàn vi.
Đói lòng phải rán mà đi,
Công làm thì có tiền thì vốn không.
Thấy đời lường gạt não nồng,
Cứ lo chắc mót tu hành thời không.
Có đau niệm Phật như dông,
Hết cơn bịnh hoạn thì không tu trì !
Nam Mô hai chữ từ bi,
Phật Trời sai khiến phải đi cứu trần.
Gẫm trong thiên hạ vạn dân,
Ít ai có tưởng Phật Thần ra chi.
Nào khi lâm lụy cơ nguy,
Mô Trời mô Phật mô nơi Thánh Thần.
Hết rồi thì lại phủi ân,
Chẳng biết niệm Phật vái Thần làm sao.
Lại thêm hỗn ẩu hùng hào,
Mắng nhiếc Trời Phật biết bao nhiêu lần.
Lại thêm chưởi Thánh rủa Thần,
Cho nên mắc phải chung thân đọa đày.
Thảo Cha ngay Chúa xưa nay,
Dầu mà có thác miễu son tạc thờ.
Xem trong các truyện các thơ,
Nịnh thần thác có miếu thờ ở đâu ?
Thác thời rơi cổ đứt đầu,
Pháp trường trảm thủ chẳng lâu chẳng chầy.
Điên nầy Điên Phật Điên Thầy,
Chẳng sợ ai rầy nên nói cù nhây.
Mặc tình nam nữ Đông Tây,
Ai tin thì xúm coi ngây hay khùng.
Trẻ già ai có muốn dùng,
Chép ra mà rải phước chung một nhà.
Nguyện cầu vững đạt Hoàng Gia,
Nam trào thạnh trị Minh Hoàng Thánh Vương.
Các nước chư quốc khiêm nhường,
Minh Vương trị nước như Đường Cao Tông.
Nam trào Phật ngự rất đông,
Vua lên chánh điện lê dân thái bình.
Bây giờ bốn phía chiến chinh,
Trách lòng bá tánh không tin Phật Trời.
Cứ lo bẻ nạn chống Trời,
Chừng nào gãy nạn ôi thôi xa trần.
Xem đi xét lại mấy lần,
Bây giờ tỏ hết cho trần hạ nghe.
Một cây chống chẳng nổi bè,
Một người chèo chẳng nổi ghe chài mười.
Người đời như trái chín muồi,
Mặc tình già trẻ đến lui hai đường.
Đời đà như chỉ treo chuông,
Cho nên Phật khiến chuyện buồn cho tôi.
Tôi buồn bốn phía không an,
Kẻ dữ hết tám người hiền còn hai.
Đế Vương còn ẩn non đoài,
Phật sai tôi dạy hôm nay dưới trần.
Khuyên hết bá tánh vạn dân,
Xin bớt hung dữ tu thân coi đời.
Tôi ra khuyên giáo hết lời,
Không nghe thời lại mắc rày lao đao.
Gặp thời khổ biết chừng nào,
Hiền từ không có hung hào thì đông.
Trung Ương Ất Sửu có dông,
Hiền từ Phật độ cũng không lụy mình.
Nghinh ngang tánh ở bất bình,
Có tướng Thiên Đình làm bịnh hãi kinh.
Nghinh ngang khinh dễ Thiên Đình,
Cho nên Ngọc Đế buồn tình thở than.
Mới sai tướng xuống trần gian,
Răn đồ hung ác chẳng an đêm ngày.
Dương trần đâu có rõ hay,
Tôi thương trần thế tỏ bày thủy chung.
Thiện nam tín nữ hay cùng,
Tôi đây không phải là khùng ở đâu !
Chừng nào dưới thế hết trâu,
Biển đông hết cá thì tôi hết khùng.
Thương thay bá sĩ lòng trung,
Chê cười mặc thế Khùng không lòng buồn.
Chừng nào nước chảy đông nguồn,
Một Thầy ba tớ hết tuồng lao đao.
Đất gò sóng bủa lao xao,
Điền đồng cỏ mọc như hào hoa Tiên.
Thương là thương kẻ thảo hiền,
Ghét đứa hung ác lòng phiền lắm thay.
Kinh nầy ai có công dày,
Biên ra truyền lại hay hơn cúng chùa.
Ở đời đừng có tranh đua,
Phải giá thì bán thì mua đừng rầy.
Giảng nầy Phật biểu truyền rày,
Thấy trong cuộc thế đời nầy nghinh ngang.
Cho nên Phật biểu lưu troàn,
Như trong bá tánh tin thời ghi coi.
Đèn lòng một ngọn không soi,
Mảng lo cuộc thế quên coi chuyện nhà.
Nam Mô Đức Phật Di Đà,
Cứu người tu niệm gian tà bỏ đi.
Thấy đời đói khó chẳng vì,
Ngạo cười chẳng kể sầu bi cho người.
Tôi không dám nói tôi cười,
Cười Trời cười Phật cho đời nghinh ngang.
Chừng nào Thánh Chúa bước sang,
Người hiền trốn núp nghinh ngang ra tài.
Long đài có đội có cai,
Gươm trần cầm lấy cho tài nghinh ngang.
Bây giờ sang thiệt rất sang,
Soi hang mạch nước thế gian đời nầy.
Đến chừng gặp hội Rồng Mây,
Khác thể cáo bầy hồi thuở nhà Thương.
Cuộc đời nhiều nổi đắng cay,
Chờ cho bủa lưới chạy ngang miệng hùm,
Đời nầy như nước cờ cùng.
Nói cho già trẻ giữ gìn tu thân.
Xem qua xét lại mấy lần,
Cơ Trời định chắc không lầm bớ dân.
Rán mà làm phước làm nhân,
Cầu Trời khẩn Phật Tổ Tông đặng bền.
Cửu Huyền Thất Tổ đừng quên,
Vùa hương bát nước chẳng nên sai lầm.
Ai mà giữ đặng nhứt tâm,
Cũng như ngọc báu để cầm trong tay.
Cũng đừng chê lạt chê chay,
Muối dưa đạm bạc dỡ hay chớ nài.
Cũng đừng phụ bắp chê khoai,
Đến chi khổ ngặt lấy chi đỡ lòng ?
Rau lang bông súng cũng xong,
Xin cho đỡ lòng khỏi đói thì thôi.
Chừng nào chúa Thánh lên ngôi,
Trên vua ấm áo dưới tôi no lòng.
Bây giờ còn hởi long đong,
Phải sao chịu vậy cho xong mọi bề.
Tôi khuyên hết thãy chợ quê,
Rán mà tu niệm chớ hề nghinh ngang.
Ra công kinh tả lưu troàn,
Cũng bằng đi cúng bạc ngàn bạc muôn.
Đừng ham hát bộ cải lương,
Để sau coi hát của Vương Minh Hoàng.
Cải lương là thói điếm đàng,
Hát bộ giễu xóm giễu làng xưa nay.
Hư nên các việc tỏ bày,
Tôi không có ép có nài chi ai.
Thương thay ông lão Bán Khoai,
Lên non xuống núi hôm nay dạy đời.
Thân sao nay đổi mai dời,
Sớm kia làng nọ khổ thôi thân già.
Nam Mô Đức Phật Di Đà,
Khiến người trở lại thảo gia của người.
Bạc bảy đâu xứng vàng mười,
Hiền lương đâu xứng với người hung hăng.
Khùng như Sư Vãi ai bằng,
Khôn như bợm bãi nhiều thằng mang gông.
Lời khuyên khắp hết Tây Đông,
Chừng nào hết cá dưới sông hết đời.
Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát
(Niệm ba lần)
Cuốn thứ Tư
Hạ Ngươn lục thập nhứt niên,
Thầy đà về cõi Tây Phương ẩn mình.
Ất Sửu Phiên Quốc chiến trinh,
Qua năm Đinh Mão Nam Đình giao ngôi.
Hàm Nghi thất quốc thương ôi !
Qua nơi Tây Bắc lánh vòng gian nan.
Các vị quan trấn thở than,
Lên non ẩn sĩ cho an một bề.
Tiên Hoàng Minh Chúa ủ ê,
Cám thương lê thứ mắc vòng gian nan.
Tiên Vương vào chốn Phật Đường,
Bạch cùng Phật Tổ sự duyên cho tường.
Thích Ca nghe tấu khá thương,
Nói cùng Minh Đế Hớn Vương mãn rồi.
Phật còn chưa đặng thảnh thơi,
Bị đày dữ lúa huống gì Đế Vương.
Mình nhớ hồi lúc Minh Vương,
Liền quì đảnh lễ Phật Trời tu thân.
Thích Ca mới hỏi ân cần :
Cớ sao Hoàng Đế tu thân làm gì ?
Minh Vương bạch Phật một khi,
Nam trào mất nước tại thì nơi tôi.
“Bây giờ tôi biết lỗi rồi,
Qui y cùng Phật cho tôi nối đời”
Thích Ca nghe nói thương ôi !
Minh Vương biết lỗi nước thôi mất rồi !
Nếu mà như muốn phục hồi,
Phải lo tu niệm vậy thời mới an.
Minh Vương nước mắt chứa chan.
Cúi đầu lạy Phật mình vàng Thích Ca.
Chư Phật xem thấy lụy xa,
Cám thương Nam quốc con xa cha rồi.
Nói cùng Minh Đế thương ôi,
Thất thập niên mới lập đời như xưa.
Minh Vương nước mắt như mưa,
Cám thương lê thứ thuế sưu nặng nề.
Chờ cho Nam quốc phục hồi,
Lao đao khổ hải chiến tranh bốn bề.
Thương thay trần hạ ủ ê,
Biết làm sao đặng phủ về lê dân.
Như Lai lời mới tỏ phân,
Muốn cho bá tánh vạn dân tu trì.
Thời là phải cậy ngươi đi,
Rao truyền bá tánh điều gì thiện nhơn.
Cứ lo những việc thảo hiền,
Bán dữ mua lành tai họa khỏi mang.
Minh Vương nghe Phật dạy troàn,
Lụy nhỏ hai hàng chẳng biết cậy ai.
Như Lai Phật Tổ Thích Ca,
Ngự tại non Đoài đòi Phật Quan Âm.
Truyền cho Đạo Sĩ chư Tăng,
Giả người dương thế giáo khuyên cõi trần.
Quan Âm Đạo Sĩ dạ rân,
Vưng lời Phật dạy lãnh phần giáo khuyên.
Những người tàn tật khùng điên,
Kêu Trời ghẹo Phật Thần Tiên động lòng.
Thất Nương lập hội công đồng,
Chư Thần tuần vảng bốn phương cõi trần.
Đều vào đãnh lễ Quan Âm,
Đạo Sĩ hỏi rằng chư vị chầu chi ?
Chư Thần thất vị đều quì :
Trần gian hung ác chẳng vì Thần Tiên.
Cứ theo mắng Phật chưởi Trời ,
Cho nên tôi đến án tiền quì tâu.
Quan Âm nghe nói phân rằng,
Chúng sanh dại lắm lỗi lầm nhiều khi.
Cho nên Minh Đế sầu bi,
Qui y cùng Phật chứ rày chúng sanh.
Như Lai Phật dạy đành rành,
Dạy bảo trần thế kết vành thiện dương.
Chư vi xin chớ dạ hờn,
Để tôi răn dạy thiệt hơn cho trần.
Chư Thần nghe dạy ân cần,
Lui về cung điện thế trần tuần xem.
Thấy trong bá tánh còn thêm,
Lên tâu Ngọc Đế đặng coi thể nào.
Ngọc hoàng ngự tại điện trào,
Truyền cho chư vị bước vào thành trung.
Hỏi rằng trong cõi Trung Ương,
Vạn dân thiên hạ hiền hung thế nào
Chư Thần tâu hết âm hao,
Tâu qua Ngọc Đế thấp cao cho tường.
Cõi trần nhiều đứa hùng cường,
Khinh khi Trời Phật chẳng nhường Thần Tiên.
Kêu Ôn rủa Dịch liền liền,
Cho nên tôi đến án tiền quì tâu.
Ngọc Hoàng ngự giữa điện chầu,
Sai Thần Ôn Dịch xuống miền trần gian.
Lại sai trong hội Ngũ Hành,
Rải nhiều thứ trái chẳng lành cho dân.
Năm Ông vội vã tỏ phân,
Tâu qua Phật Tổ cứu dân tai nàn.
Thích Ca chưa có tỏ tường,
Cớ sao chư vị tầm đường Tây Phương ?
Năm Ông bạch lại Phật tường,
Ngọc Hoàng lịnh dạy Ngũ phương xuống trần.
Hai cõi Trung Ương vân vân,
Cho nên tôi mới tố trần Phật hay.
Thích Ca lụy ứa châu mày,
Thương thay trần thế mắc rày tai ương.
Mau mau kíp tới Tòa Chương,
Tâu qua Ngọc Đế xin thương cõi trần.
Lẽ nào sai giết hết dân,
Thứ dung cho nó tu thân nó nhờ.
Ngọc Hoàng nghe nói ngẩn ngơ,
Mới sai Lý Tịnh một giờ ra đi.
Đòi sang thất nhị Nương Nương,
Vào chầu Ngọc bệ cho ta phân tường.
Thất Nương vào tại Ngọc đường,
Sắc lịnh Ngọc Đế bày tường thỉ chung.
Hạ ngươn nay đã muốn cùng,
Hại kẻ chẳng kể Thiên cung vậy mà.
Ai mà kính trọng Mẹ Cha,
Biết kiên Trời Phật chừa ra chẳng hành.
Phật xin cho kẻ chúng sanh,
Cứ giữ việc lành hơn lập âm vân.
Bền lòng niệm chữ từ bi,
Nữa sau có Phật dắt đi tòa vàng.
Bấy lâu Phật ở xa ngàn,
Bây giờ có Phật bước sang Nam trào.
Người đời như thể chiêm bao,
Thay hồn đổi xác biết bao nhiêu ngày.
Phật còn giả kẻ ăn mày,
Ai mà biết đặng lẽ này thiệt hơn.
Ông thời giả dại giả điên,
Ông thời giả kẻ tật nguyền biết đâu.
Thấy nghèo ăn hiếp khinh khi,
Cho nên mắc phải chịu rày tai ương.
Tật nguyền nầy thiệt khá thương,
Xin cho bù chì các chú thợ quê.
Thấy giàu nhiều đứa u mê,
Quyền cao chức lớn nào hề biết chi.
Thấy ai tu tánh tu nghi,
Sang giàu kêu ngạo khinh khi chê cười.
Có tiền sao dạy nhiều bề,
Phước đâu ai để mà mình có ăn ?
Nào là phước của cao tăng,
Tu nhơn tích đức để hằng cháu con.
Cửa Huyền nay đã về non,
Cháu con giàu có bỏ mòn Phật Tiên.
Mảng lo lớn chức cao quyền,
Cho nên bỏ hết chẳng kiêng Phật Trời.
Lại thêm khi dễ nhiều lời,
Khi Phật chê Trời nhiều nỗi thiết tha.
Chư Phật lụy ứa chan òa,
Thương thay trần thế lạy mà Quan Âm.
Dạy bảo trần thế kẻo lầm,
Sửu Dần xuất Thánh lo cần binh cơ.
Bính Dần thấy việc ngẩn ngơ,
Qua năm Đinh Mão ngẩn ngơ một hồi.
Chồng Nam vợ Bắc dân ôi !
Nói cho trần hạ dữ thôi kẻo lầm.
Ai mà thiện niệm nhứt tâm,
Tu nhơn tích đức khỏi lầm tai ương.
Phật còn chẳng đặng thảnh thơi,
Huống chi trần hạ mà an nổi gì ?
Hết đây đến nước dị kỳ,
Dỗ dành thiên hạ vậy thì chẳng an.
Đến đâu phá rối xóm làng,
Dụ dân đoạt của Đại Nam tiền trào.
Cuộc đời khổ hải biết bao,
Phật sai đạo sĩ truyền rao dân tường.
Như ai muốn ở Thiên Đường,
Đừng mê theo đạo Quỉ Vương làm gì.
Như mê theo đạo dị kỳ,
Thời mà phải bỏ vậy thì Tổ Tông.
Người đời xét phải cân phân,
Theo đạo nước khác có công danh gì ?
Người Nam theo đạo dị kỳ,
Công hầu chi đó bỏ thì ông cha.
Thân thác chẳng đặng làm ma,
Hồn khôn Thiên cẩu ăn mà còn chi.
Thân thác thiệt rất thảm sầu,
Bụng đầu mổ hết đâu còn món chi.
Nói thôi trong dạ sầu bi,
Người đời ít kẻ xét suy cuộc trần.
Không coi mấy vị Thánh Thần,
Trung quân ái quốc nhân dân miễu thờ.
Hớn Đường tạc để bây giờ,
Mấy lăng quan cựu trơ trơ đời nầy.
Long Xuyên Tiền Nhậm còn ghi,
Long Thuận Chưởng Lý miễu lăng còn.
Hà Tiên hùng dõng Vệ Cơ,
Tử trận mà thác miễu thờ tạc danh.
Địa đầu là xứ Bắc Thành,
Quan thượng tạ trần miễu ấy tốt thay.
Chớ nay nhiều sự dị kỳ,
Làm quan tử trận miễu thờ ở đâu ?
Người đời phải xét cao sâu,
Việt Nam Tiền Hớn sau dầu cũng sang.
Đến chừng gặp Chúa Minh Hoàng,
Làm sao về đặng Hớn đàng cho xong.
Cũng như chim mắc trong lồng,
Có ai gỡ khỏi cho xong mà về ?
Các nước vây phủ tư bề,
Phật cùng chư vị nào hề rảnh đâu.
Minh Hoàng ngự tại Nam Lầu,
Phật cùng chư vị lo thâu phép Thần.
Phi đao bửu kiếm rất đông,
Chuẩn Đề thâu hết cứu trần gian nan.
Hóa lửa nó đốt muôn ngàn,
Hồ lô Phật Tổ đổ tràn nước ra.
Núi giăng bao khắp người ta,
Có ông Di Lặc thâu mà non cao.
Nước dưng lụt đến đọt sào,
Có ông Yết Đế thâu mau thủy triều.
Bàn Môn thả thú rất nhiều,
Kỳ lân sư tử lại nhiều thú hung.
Văn Thù tay chấp thần cung,
Huê Quang cầm kéo trừ trùng đọc tan.
Bàn môn diệu thuật đa đoan,
Hóa lửa nó đốt muôn ngàn người ta.
Quan Âm Nam Hải bước sang,
Tịnh bình thâu hết mới an tai nàn.
Thoại Ba tài trí đa đoan,
Thiên la địa võng bủa tràn tứ phương.
Di Đà tay chắp thần chương,
Đánh ra một cái tan tành còn chi.
Đào Lư diệu thuật rất kỳ,
Hóa ra muôn thú ai bì đặng đâu.
Thú sao tài phép lạ lùng,
Hóa phép hóa lửa khó thay cho đời.
Nó hóa nhiều phép kỳ tài,
Lửa cháy nước ngập rất nên thảm sầu.
Chư Thần xem thấy lắc đầu,
Trừ sao cho đặng lên cầu Thích Ca.
Phật Tổ thôi mới phán ra,
Sai ông Hộ Pháp bắt mà thú yêu.
Đào Lư phép nó rất nhiều,
Hóa binh hóa tướng như diều rất đông.
Phật Tổ ngự tại Vân Trung,
Sai Tề Thiên xuống thâu tan tướng diều.
Đào Lư tài phép đủ điều,
Hóa ra ác thú thật nhiều rất hung.
Phép tài biến hóa vô cùng,
Tu hành thì khỏi làm hung đâu còn.
Chuyến nầy cha mẹ lạc con,
Tân Mùi khổ hãi hỡi còn thon von.
Nhâm Thân chưa đặng chỉnh tề,
Đến thăm Quí Dậu Hớn Trào bình an.
Thiên Đường Địa Ngục hiệp sang,
Trung Ương tam giái xuê xang phỉ tình.
Nói cho bá tánh làm tin,
Đừng mê đạo khác mà quên Nam Đình.
Đến chừng gặp hội bình minh,
Gươm nào tội nấy chớ tình thở than.
Nói cho bá tánh đặng tàn,
Chừng nào đến giảng vá hoàn biết nhau.
Bấy lâu nói trước mà sau,
Bây giờ nói chuyện mau mau tới rồi.
Như ai mà có nghi ngờ,
Tôi thề cho chứng Phật Trời nào sai.
Nam Mô Đức Phật Như Lai,
Tôi chẳng có nài ai muốn thời nghe.
Đinh Mão thứ nhứt hẳn hòi,
Có tàu Đông Hớn Phật Bà xét coi.
Thập Điện dở nẻo hẳn hòi,
Văn Thù treo lưới buồm lèo xuê xang.
Mấy người tu niệm đặng an,
Những kẻ làm ác có còn ở đâu.
Phật Bà xem thấy lụy châu,
Biết làm sao đặng cứu rày hung hăng.
Ai mà tu niệm ăn năn,
Thấy kinh rán chép cũng bằng tu non
Ai muốn cho đặng vuông tròn
Chép truyền phước để bia son đời đời.
Dạy thôi nay đã hết lời,
Ra công chép lấy để đời mà coi.
Phật biểu lưu truyền hẳn hòi,
Ai ngồi đặt đặng nên đời bỏ qua.
Nói cùng nam nữ trẻ già,
Ai chép truyền đặng phước bằng non cao.
Nếu ai mà chẳng tin lòng,
Nữa sau lại bị Âm Binh lại rày.
Huệ Lưu nào nại công lao,
Khuyên trong nam nữ đừng xao tấm lòng.
Cũng đừng lánh đục tầm trong,
Xả thân cầu đạo tham vinh làm gì ?
Bạc đâu sánh lại với chì,
Vàng đâu có lộn với thau cũng kỳ.
Làm giàu phải xét phải suy,
Bạc cho ai đổi sắt chì làm chi.
Tu hành như ngọc lưu ly,
Sang giàu ác đức như chì gắn câu.
Rủi tay đức xuống ao sâu,
Lụng vào đáy biển biết đâu mà tìm .
Phật Trời nói chẳng sai lầm,
Tu nhơn như ngọc báu cầm trên tay.
Ác nhơn như thể dép giày,
Nói cho nam nữ xét rày mà coi.
Thân tôi ở một cái chòi,
Cũng như ngọc chiếu sáng soi khắp ngàn.
Chừng nào bảy núi thành vàng,
Thì là mới đặng thanh nhàn tấm thân.
Cực lòng nói hết Đông Tây,
Nhơn dân sao chẳng xét đời mà coi ?
NamMô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
(Niệm ba lần)
Cuốn thứ Năm
Thương thay trần hạ đời nay,
Trời đà mở hội khổ thay nhiều bề.
Các nơi chư quốc ủ ê,
Bốn phương khổ hải nhiều khó an.
Nhơn dân điều mắc tai nàn,
Đói đau khổ ải rộn ràng trái ban.
Giáp Tý chưa mấy tai nàn,
Sửu Dần đa bịnh lại còn đa binh.
Tháng ba mùng chín xuất binh,
Ngày rằm xuất tướng dạy binh phép mầu
Đến đâu đá nổ súng chai,
Nói cho già trẻ gái trai hay mừng.
Ất Sửu nầy xuất tướng trung,
Bính Dần nhiều bực anh hùng ai đương.
Đinh Mão thứ nhứt oai cường,
Thiệt tướng Tiền Đường khôi phục Đế Vương.
Ất Sửu ác thú lộ trương,
Ẩn mình rừng rậm chưa ra chán chường.
Chừng nào ác thú Quỉ Vương,
Hóa lửa nó đốt mới chường ra đi.
Nói cho già trẻ lo âu,
Minh Vương khôi phục Hớn Châu phong thần.
Rán mà tu niệm ân cần,
Đặng mà coi hội Long vân trên Trời.
Ở trên mây bạc giữa vời,
Tiêu thiều ca xướng khác nào Trường An.
Rao cho bá tánh đặng tường,
Kinh nầy rốt việc rốt đời bớ dân.
Lận đận chẳng biết mấy lần,
Nhơn dân khổ hải thương ôi cho trần.
Truyền rao chẳng biết mấy lần,
Thương đời trần hạ muôn phần lao đao.
Nước đâu ngập lút gò cao,
Lửa đâu dậy cháy lao xao khắp ngàn
Cám thương trần hạ lăng xăng,
Mắc trong nước lửa biết đường là đâu.
Thứ lửa nó bay lên cao,
Đến đâu cháy đó chỗ nào cũng tiêu.
Thương thay hung dữ chắt chiu,
Bị loài thú dữ mất tiêu xác hồn.
Ác nhơn tánh mạng bất tồn,
Tu hành khác thể như bồn hoa Tiên.
Phật Trời thương mấy người hiền,
Phủ che khỏi hết lụy liên tai nàn.
Làm ác tánh mạng đâu còn,
Kiêu ngạo tu niệm lại còn mau tiêu.
Bấy lâu Trời Phật chắt chiu,
Dưỡng nuôi nào có xử tiêu làm gì ?
Nuôi kẻ hung ác vô nghì,
Cao đầu lớn vóc đến thì cọp ăn.
Tu nhơn thời đặng ở ngoài,
Phật Trời bảo dưỡng hào hề mang tai.
Trước sau nói chẳng an bài,
Sợ dân náo động giấu hoài không cho.
Bính Dần tai nạn rất to,
Nói cho trần thế mà lo tu trì.
Cầu nguyện bái Phật li bì,
Quan Âm Bồ Tát cứu thì khỏi lo.
Phật biểu truyền dạy mấy lần,
Coi đâu bỏ đó mang tai liền liền.
Mang tai bá tánh lại phiền,
Mới tu mà muốn thành Tiên tức thời.
Tu như thuyền nọ chạy khơi,
Có đau tu niệm hết thời lại thôi.
Dương trần ở bạc như vôi,
Khi dễ Thần Thánh nghĩ thôi đau lòng.
Cho nên mắc phải trong vòng,
Nói ra thì lại mắc lòng chị anh.
Bạc đầu phải sợ tóc xanh,
Liệt oanh vạn quốc cũng đương tranh giành.
Thương thay Trung Quốc chẳng lành,
Phù Tang nhiều cách khổ hành lê dân.
Nhưng mà Trời chưa định phân,
Cho nên trung Quốc lo cầu các nơi.
Dầu cho giặc giã tơi bời,
Kể sao cho hết tai Trời dân ôi !
Hạ ngươn nay đã hết rồi,
Minh Hoàng cầu Phật lập đời Thượng Ngươn.
Tu hành nhơn đức thì hơn,
Thay hồn đổi xác nhờ ơn Cửu Trùng.
Hết tục rồi lại đến Tiên,
Giữ lời Phật dạy mới yên mới lành.
Tu thời như ngọc báu lành,
Ác nhơn thời lại thác còn tuổi xanh.
Ác thú lớp giựt lớp lành,
Lớp lôi lớp kéo tan tành loài gian.
Ngồi trên mây bạc nào an,
Thấy kẻ vô nghĩa khó toan cứu giùm.
Tu nhơn thời đặng thung dung,
Dựa cùng Tiên Phật vô cùng hiển vinh.
Lao xao kẻ khóc người than,
Cong lưng mà chạy biết phương thế nào ?
Giặc thời vây phủ khắp bao,
Đoái nhìn lửa cháy lao xao khắp rừng.
Dưới sông thời nước lại dưng,
Khỏi lửa thời nước khó mà lánh thân.
Hổ lang ác thú thời đông,
Trốn đâu cho khỏi khó mong thoát nàn.
Phật Tiên còn hỡi luận bàn,
Công đồng hội nghị tôn Hoàng Đế vương.
Đinh Mão Thánh Chúa nối ngôi,
Thìn Tỵ Ngài ngồi ngai vị chưa an.
Canh Ngũ mới ngự chánh đàn,
Nói cho bá tánh liệu toan tu hành.
Phật Tiên còn hỡi sầu bi,
Huống chi trần thế vậy mà sao an.
Năm năm sáu tháng cơ hàn,
Quỉ vương gây loạn nào an thế trần.
Chỗ nào nó cũng muốn giành,
Cám thương Tần quốc mười phần còn hai.
Tây Phiên gió cuốn chạy dài,
Tiên Vương nó tính nay mai cũng đầu.
Các nước chư quốc chư hầu,
Đều đi cống lễ hàng đầu Thánh Vương.
Đại Nam xưng hiệu Tiền Đường,
Nối đời nhà Hớn bốn phương phục tùng.
Nam trào Chúa Thánh quân trung,
Muôn năm bình trị muôn dân an nhàn.
Quí Dậu có Phật Ta bà,
Vạn dân thiên hạ nhà nhà ấm no.
Huệ Lưu hết dạ cần lo,
Lưu truyền một bổn rao cho dân tường.
Phật Trời thương hết Trung Ương,
Thiện nam tín nữ không thương Phật Trời.
Mấy điều căn dặn hết lời,
Tu cầu khỏi hại như thời thượng lai.
Huệ Lưu ý tứ nào sai,
Đặng cho bá tánh gái trai tu trì.
Cũng đừng thấy vậy mà khi,
Nói cho hết tiếng khổ thì thân tôi.
Thương dân đã nói hết lời,
Tôi nay thế vị thay lời Thích Ca.
Rao truyền cho đủ gần xa,
Thế lời cho Phật dám mà dối đâu !
Chừng nào Núi Cấm hóa lầu,
Thời là bá tánh đâu đâu thái bình.
Thương thay trần hạ hết tình,
Sấm Trời sao lại thình lình nổ ra.
Chừng ấy mới thấy quỉ ma,
Ai lành ai dữ ai là Phật Tiên.
Chừng nào tiếng sấm nổ ra,
Thời là lành dữ kẻ tiêu người còn.
Nói ra nghĩ lại héo von,
Lành còn dữ mất khác rày với nhau.
Khó nghèo cũng thể như giàu,
Sang giàu thì lại đói đau hơn nghèo.
Nam Mô Vô Ngại Đại Bi tâm Đà La Ni
A Di Đà Phật
(Niệm ba lần)