XĂM TẢ QUÂN SỐ 3
Dục xu nam tẩu mịch nguyên do,
Bất vãng nam biên phản bị tù,
Nhược giả cựu tâm chung tiện kiến,
Thời phụng Mùi, Ngọ tự lai đầu.
NGHĨA
Muốn tới phương Nam kiếm vật gì,
Gặp rồi không gặp chẳng ta chi,
Ví bằng trở lại tìm đường cũ,
Mùi, Ngọ rồi đây gặp có khi.
GIẢI
Đào tẩu nam phương,
Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất,
Thân nhơn vãn phòng,
Tài trí khứ hướng.
NGHĨA
Kẻ trốn về phương Nam, tới nhà bà con của nó mà hỏi, đến Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất bốn ngày đó thì mới hay tin đi hướng nào.
MẬT PHƯỚC TỰ
Người xin được quẻ này đang gặp bế tắc, việc mưu sự nhất thiết phải hướng về phương Nam mới tìm được lối thoát, bằng không sẽ bị kìm hãm, trói buộc. Tuy đi xa nhưng cốt yếu phải giữ tấm lòng ngay thẳng, nương theo nền tảng và kinh nghiệm cũ thì mới mong thấy được kết quả.
LỜI BÀN
Bổn mạng: Quẻ này mạng vận cũng khó khăn, phải an phận thủ thường thời được tốt.
Gia đạo: Việc nhà thì như thường, song phòng kẻ trộm cho lắm, dùng người đừng có mới chuộng cũ vong, ngưòi ở hướng Nam thì đừng dùng.
Mưu sự: Phải an thường thủ phận, không nên mưu việc gì, phải đề phòng trong bà con tôi tớ trong lòng không hay.
Cưới gả: Cưới gả mà gặp quẻ này thì phải đi một lúc đã, để đợi một lúc đã, để đợi người có trở lại cần mình rồi sẽ hay, nếu vội thì không lành được.
Chiếm bịnh: Bịnh này là bởi tại đi hướng Nam vương vấn, nếu uống thuốc thời phải đi qua hướng Tây Bắc, tìm thầy thời đến ngày Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất hoặc may mạnh được.
Cầu tài: Cầu tài không có tài mà có khi phải bị tai ách, nên giữ việc thường mà làm thời được tốt.
Cầu quan: Xem quẻ này phải an thường thủ phận để chờ năm Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất vận họa sẽ hay, nếu bồn chồn có khi phải mang điều khốn khổ.
Xuất hành: Ra đi phải tránh phương Nam, may gặp anh em bạn cũ chỉ dẫn cho mình, thời cũng được hạnh thông.
Kiện cáo: Kiện cáo thời chắc lâu lành, mà phải bị hình phạt, chi bằng hòa giải với nhau thời được tốt.
Mất đồ: Đồ này đem về hướng Nam, cứ đến nhà bà con mà hỏi, thời trong ngày Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất hay là giờ Mùi, Ngọ hoặc may có tin.
TÍCH CỔ
Nguyễn Hoàng xây nghiệp Đế Vương Xứ Đàng Trong
Chúa Nguyễn Hoàng bị kìm hãm ở đất Bắc bởi họ Trịnh, ông được Trạng Trình mách nước “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Ông quyết chí đi về phương Nam (xứ Thuận Hóa) để tìm lối thoát. Nhờ mang theo “cựu tâm” là lòng trung nghĩa và cách trị quốc cũ của dòng tộc, ông đã gầy dựng nên cơ đồ họ Nguyễn vững chắc ở Đàng Trong
Bài Viết Liên Quan
Bài 70: Vì Sao Chưa Hết Khổ?
Cha con ngự ở trên Trời. Làm sao không thấy cuộc đời trái ngang Nhưng mà Cha vẫn chưa ban...
Nguồn gốc của chú Đại Bi
Chú Đại Bi được rút từ kinh “Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đà La Ni”, một bản kinh...
TẬP SAN MẬT PHƯỚC SỐ 4
Độc giả nhấn vào nút bên dưới để xem bản đầy đủ của Tập San Mật Phước Số 4. Xuất...
LINH XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO – QUẺ SỐ 35
QUẺ SỐ 35 – ĐẠI CÁT TRIỆU Khô trúc sinh duẩn DỊCH Tre khô mọc măng TỔNG THI Đống diệp...
Xăm Phật Tổ – Xăm Số 4
XĂM PHẬT TỔ SỐ 4 Có hộp bên trong chẳng thấy gươm,Uổng công lo lắng chuyện không lường.Trong nhà quái...
Thấy Phật, Bồ tát thị hiện trên mây
Câu chuyện có thiệt này xảy ra ở gia đình một cư sĩ Mật pháp. Chồng bạn bị bịnh phải...
Bài 87: Thế Nào Là Thành Công?
Học trò tham vấn lão già: “Thế nào mới được gọi là thành công?” Người tu nhìn nhận thành công...
Câu Chuyện Số 8: Lạt Ma Tây Tạng
Nguyễn Thành Nhơn đã 82 tuổi. Trông ông chỉ tưởng ông chừng mới hơn 50. Xuất thân từ một gia...